Các mạng xã hội đối mặt với khủng hoảng

Posted by admin | Posted in Tin tức tổng hợp, Web2.0 | Posted on 30-12-2008

Hàng tá các công ty mạng xã hội có thể lụn bại vào năm tới do quảng cáo ế ẩm và một dạng bong bóng dot.com mới đe dọa nổ, theo các chuyên gia Deloitte.

Các website đang sống sót có thể bị buộc phải bổ sung vào doanh thu của mình từ nguồn đăng ký trả tiền, bán dữ liệu của các thành viên hoặc tìm các nguồn tài chính phụ thêm, các nhà nghiên cứu của hãng tư vấn, kiểm toán lớn thứ nhì thế giới Deloitte nói. Dự báo ảm đạm này đến khi hãng khảo sát thị trường eMarketer dự đoán về tăng trưởng đối với quảng cáo kỹ thuật số đã giảm một nửa, từ 17,2% còn 7,2% cho năm tới. Read the rest of this entry »

Share This Post

jQuery giúp việc phát triển AJAX, JavaScript dễ dàng hơn

Posted by admin | Posted in Ajax, JQuery, Javascript | Posted on 10-12-2008

Khi mà nhiều nhà phát triển chấp nhận phát triển kiểu AJAX để tạo ra các ứng dụng tương tác mạnh hơn, họ sẽ tìm các công cụ giúp đơn giản hóa cho công việc của mình.

jQuery là một công cụ như thế, một số người dùng nói rằng nó giúp tạo dự án phát triển AJAX (XML và JavaScript không đồng bộ) gọn hơn nhờ việc sử dụng JavaScript dễ dàng hơn mặc dù JavaScript nổi tiếng là khó làm việc cùng – một nhóm chuyên gia phát biểu tại cộng đồng Lang.Net của Microsoft hồi đầu tháng 8, tổ chức ở Redmond, Washington.
John Resig, người tạo ra jQuery, nói rằng công nghệ này có bản 1.0 vào 26/8. jQuery là kiểu thư viện JavaScript mới cần thiết cho phép các nhà phát triển làm việc “khiêm tốn” với JavaScript.
Read the rest of this entry »

Share This Post

Làm việc với DOM bằng JavaScript.

Posted by admin | Posted in CSS, Javascript | Posted on 05-12-2008

Trong một ứng dụng bất kỳ, nếu muốn thay đổi giao diện người dùng khi họ đang làm việc, thì phải cung cấp các phản hồi lại khi người dùng gửi các yêu cầu.

Để hiểu rõ cơ chế làm việc với DOM bằng JavaScript, chúng ta cùng xét một ví dụ về một trang HTML đơn giản.

Quote:

<html>
<head>
<link rel=’stylesheet’ type=’text/css’ href=’hello.css’ />
<script type=’text/javascript’ src=’hello.js’></script>
</head>
<body>
<p id=’hello’>hello</p>
<div id=’empty’></div>
</body>

</html>


Ta đã thêm vào các tham chiếu đến các file hello.css (dùng Cascading Style Sheet) và một file chứa mã nguồnJavaScript là hello.js. Ở đây cũng đồng thời khai báo một thẻ <div> với một ID.

Còn đây là file hello.css chứa stylesheet để áp dụng cho các mục trong file HTML:

Quote:

.declared{
color: red;
font-family: arial;
font-weight: normal;
font-size: 16px;
}
.programmed{
color: blue;
font-family: helvetica;
font-weight: bold;
font-size: 10px;
}


Chúng ta định nghĩa hai style, để mô tả gốc của các nút DOM (tên của các style là tùy chọn). Các style này không dược dùng trong file HTML, nhưng chúng sẽ được áp dụng qua file JavaScript.

Quote:

window.onload=function(){
var hello=document.getElementById(’hello’);
hello.className=’declared’;
var empty=document.getElementById(’empty’);
addNode(empty,”reader of”);
addNode(empty,”Ajax in Action!”);
var children=empty.childNodes;
for (var i=0;i<children.length;i++){
children[i].className=’programmed’;
}
empty.style.border=’solid green 2px’;
empty.style.width=”200px”;
}
function addNode(el,text){
var childEl=document.createElement(”div”);
el.appendChild(childEl);
var txtNode=document.createTextNode(text);
childEl.appendChild(txtNode);
}


Hàm window.onload() sẽ được gọi khi trang web được nạp. Tại thời điểm này, cấu trúc cây DOM sẽ được thiết lập.

Share This Post

Cú pháp & thuộc tính CSS Style.

Posted by admin | Posted in Ajax, CSS | Posted on 05-12-2008

Cú pháp cơ bản của CSS
Cú pháp của CSS gồm ba thành phấn:

* Thành phần lựa chọn (thường là một thẻ HTML) (Selector)
* Thuộc tính (Property)
* Giá trị (Value)

Thể hiện của cú pháp CSS

Code:

Selector {

Property1: Value1;

Property2: Value2;

}

Selector có thể là các thẻ/nhóm thẻ HTML, các lớp khai báo, hay bằng định danh duy nhất của phần tử.
Khi chèn các đoạn mã CSS vào trang web, trình duyệt sẽ hiển thị trang web theo cách CSS đã qui định cho nó, có ba cách để chèn CSS vào trang web.

a. External Style Sheet (sử dụng file CSS được định nghĩa thành trong file riêng)
Mỗi trang web sử dụng file CSS ngoài này đều phải sử dụng thẻ <LINK>. Thẻ <LINK> được đặt bên trong thẻ <HEAD>.

Code:

<head>

<link rel=”stylesheet” type=”text/css”

href=”mystyle.css” />

</head>

b. Internal Style Sheet (định nghĩa các style sheet ngay trong trang web)
Trong trường hợp mỗi trang web của sử dụng các định dạng khác nhau, dùng Internal Style Sheet. Để định nghĩa Internal Style Sheet, sử dụng thẻ <STYLE> đặt bên trong thẻ <HEAD>.

Code:

<head>

<style type=”text/css”>

hr {color: sienna}

p {margin-left: 20px}

body {background-image: url(”images/back40.gif”)}

</style>

</head>

c. Internal Style Sheet (style được qui định ngay trong mỗi thẻ HTML)
Đây là phương pháp kém hiệu quả nhất, không nên sử dụng phương pháp này vì đã làm mất các ưu điểm của CSS.

Code:

<p style=”color: sienna; margin-left: 20px”>

This is a paragraph

</p>

Các thuộc tính của CSS Style

Mỗi phần tử trong trang HTML có thể được qui định theo nhiều kiểu. Một phần text của một phần tử có thể được quy định theo các thuộc tính color, font size, độ đậm của phông, và kiểu chữ sử dụng. Có rất nhiều tùy chọn được áp dụng cho thuộc tính trên. Ví dụ để qui định cho một paragraph:

Code:

.robotic{

font-size: 14pt;

font-family: courier new, courier, monospace;

font-weight: bold;

color: gray;

}

ngocha85(Updatesofts.com)

Share This Post

Các công nghệ trong AJAX - CSS

Posted by admin | Posted in Ajax, CSS | Posted on 05-12-2008

Từ bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu các công nghệ trong AJAX và mối liên hệ giữa chúng.

AJAX là một tập hợp các công nghệ bổ sung lẫn nhau. JavaScript có vai trò chất keo kết dính các ứng dụng lại với nhau. Giao diện người dùng được tạo và tái nạp bằng cách dùng JavaScript để điều khiển Document Object Model, tạo và tổ chức biểu diễn dữ liệu cho người dùng, đồng thời xử lí các tương tác trên chuột và bàn phím.

Cascading Style Sheets (CSS) cung cấp một sự nhất quán trên cảm quan “look and feel” cho ứng dụng và khả năng thao tác mạnh mẽ với DOM. Đối tượng XMLHttpRequest (hay một cơ chế tương đương nào đó) được dùng để liên lạc một cách bất đồng bộ với server, đảm bảo việc gửi yêu cầu người dùng và tái nạp dữ liệu trong khi người dùng vẫn làm việc.

Read the rest of this entry »

Share This Post

Nguyên nhân xuất hiện công nghệ AJAX.

Posted by admin | Posted in Ajax | Posted on 05-12-2008

Trước khi tìm hiểu về Ajax, chúng ta cùng xem xét quá trình phát triển các công nghệ Web, nguyên nhân và hoàn cảnh xuất hiện công nghệ Ajax.

Quá trình phát triển các công nghệ trong ứng dụng Web

Ban đầu, các trang Web là tĩnh; người dùng gửi yêu cầu một tài nguyên nào đó, và server sẽ trả về tài nguyên đó. Các trang Web không có gì hơn là một văn bản được định dạng và phân tán. Đối với các trình duyệt, thì các trang Web tĩnh không phải là các vấn đề khó khăn, và trang Web lúc đầu chỉ để thông tin về các sự kiện, địa chỉ, hay lịch làm việc qua Internet mà thôi, chưa có sự tương tác qua các trang Web. Năm 1990, Tim Berners-Lee, tại CERN, đã sáng chế ra HTML (Hyper Text Markup Language), ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản. HTML rất đơn giản và dễ dùng, và nó trở thành một ngôn ngữ rất phổ biến và cơ bản.

Tuy nhiên, không lâu sau đó, nhu cầu về các trang Web động, có sự tương tác ngày một tăng, chính vì thế sự ra đời các công nghệ Web động là một điều tất yếu. Sau đây là một số công nghệ Web động cơ bản:

Read the rest of this entry »

Share This Post

Tìm kiếm một DOM Node

Posted by admin | Posted in Javascript | Posted on 04-12-2008

Yêu cầu đầu tiên để làm việc trên DOM với JavaScript là đi tìm kiếm một phần tử để thay đổi. Trước hết cần bắt đầu tham chiếu qua nút gốc - root node, nút này thể hiện qua biến toàn cục document.

Mỗi nút trong DOM là một nút con (hoặc nút con cấp hai, ba…) của document, nhưng cứ đi dần vào cây DOM, sẽ thấy một tài liệu phức tạp được biểu diễn bởi DOM, và việc tìm kiếm là rất khó khăn.

Vì thế có các cách sau để tìm kiếm một nút nhanh chóng hơn. Mỗi phần tử HTML có một thuộc tính ID, ví dụ như,

Quote:

<p id=’hello’>

hay

Quote:

<div id=’empty’></div>

Mỗi một nút DOM có thể có một ID gán cho nó, và ID này có thể được dùng để tham chiếu tới nút qua hàm :

Quote:

var hello=document.getElementById(’hello’);


Trong một số trường hợp, cần duyệt qua cấu trúc cây từng bước một, mỗi nút DOM có một nút cha và nhiều nút con. Chúng có thể được truy cập bởi các thuộc tính parentNode và childNodes, thuộc tính parentNode trả về một đối tượng DOM node khác, trong khi childNodes trả về một mảng javascript:

Quote:

var children=empty.childNodes;
for (var i=0;i<children.length;i++){

}


Một cách khác để tìm kiếm là dựa trên loại thẻ HTML, dùng phương thức getElementsByTagName(). Ví dụ, document.getElementsByTagName(”UL”) sẽ trả về chuỗi tất cả các thẻ <UL> trong tài liệu.

Tạo DOM Node

Trong nhiều trường hợp cần tạo các nút mới và thêm nó vào tài liệu. JavaScript cung cấp một số phương thức để làm điều đó. Các phương thức chuẩn để tạo nút mới là document.createElement() và document.createTextNode(), phương thức createElement() có thể được dùng để tạo ra bất kỳ phần tử HTML nào, tham số là kiểu của loại thẻ HTML;
var childEl=document.createElement(”div”);
createTextNode() tạo một nút thể hiện qua một đoạn text, thường được tìm thấy trong các thẻ về heading, div, paragraph, và list item.
var txtNode=document.createTextNode(”some text”);

Chuẩn DOM coi các text node tách rời khỏi biểu diễn HTML. Chúng không có các stye để áp đặt cho trực tiếp và vì thế chúng yêu cầu ít bộ nhớ hơn.
Một nút khi được tạo ra phải được gắn vào tài liệu trước khi hiển thị trên trình duyệt, phương thức appendChild() được dùng để thực hiện điều này el.appendChild(childEl);
Ba phương thức createElement(), createTextNode(), và appendChild() cho phép thực hiện hầu hết các thao tác để thêm một nút vào tài liệu.

Share This Post

Web2.0

Posted by admin | Posted in Web2.0 | Posted on 04-12-2008

Được xem là một cuộc cách mạng trên thế giới mạng, thế hệ web mới có những thay đổi quan trọng không chỉ ở nền tảng công nghệ mà còn cả ở cách thức sử dụng - hình thành nên môi trường cộng đồng, ở đó mọi người cùng tham gia đóng góp cho xã hội “ảo” chứ không chỉ “duyệt và xem”.

Web 2.0 là gì? Làm sao phân biệt đâu là Web 1.0 đâu là Web 2.0? Thuật ngữ “Web 2.0″ đang trở nên thịnh hành. Thực chất, Web 2.0 có nghĩa là sử dụng web đúng với bản chất và khả năng của nó.

Mục tiêu đầu tiên của những người tiên phong xây dựng Internet là nhằm kết nối các nhà nghiên cứu và các máy tính của họ với nhau để có thể chia sẻ thông tin hiệu quả. Khi bổ sung World Wide Web (năm 1990), Tim Berners-Lee cũng nhằm mục tiêu tạo phương tiện cho phép người dùng tự do đưa thông tin lên Internet và dễ dàng chia sẻ với mọi người (trình duyệt web đầu tiên do Berners-Lee viết bao gồm cả công cụ soạn thảo trang web). Tuy nhiên, sau đó web đã phát triển theo hướng hơi khác mục tiêu ban đầu.

Read the rest of this entry »

Share This Post

Các vấn đề nảy sinh và sự ra đời của AJAX

Posted by admin | Posted in Ajax, JQuery, Tối ưu hoá SEO | Posted on 04-12-2008

Trước khi tìm hiểu tại sao Ajax lại được xem là “cứu tinh” của các ứng dụng Web, hãy thử phân tích những giới hạn của các ứng dụng web hiện tại khiến nó chưa thể thay thế cho các phần mềm phía client truyền thống.

Chỉ cách đây vài năm, khi mà các dịch vụ web bùng nổ, người ta đã nghĩ đến một lúc nào đó tất cả các ứng dụng mà ta sử dụng sẽ là các ứng dụng Web thay vì các phần mềm chạy độc lập trên các máy tính đơn lẻ. Quả thật, với sự phát triển chóng mặt của mạng Internet cùng với những ưu điểm của các ứng dụng Web (truy cập tại mọi nơi, không cần nâng cấp,…), tương lai của các phần mềm chắc chắn sẽ gắn chặt với các ứng dụng Web, nếu không muốn nói là có thể sẽ bị thay thế. Tuy nhiên, cho đến giờ, giấc mơ đó vẫn chưa thành sự thật và người ta bắt đầu nghĩ rằng, có lẽ nó sẽ không bao giờ trở thành sự thật.

Read the rest of this entry »

Share This Post

jQuery làm việc như thế nào?

Posted by admin | Posted in Ajax, Biểu thức chính quy, JQuery, Javascript | Posted on 04-12-2008

1. Căn bản

Để làm quen với jQuery, trước tiên, bạn nên tạo một file html với nội dung như sau:

<html>

<head>
<script type=”text/javascript” src=”path/to/jquery.js”></script>
<script type=”text/javascript”> // <font color=”#ff0000″>(*)</font> </script>
</head> <body>

<a href=”http://jquery.com/”>jQuery</a>

</body>

</html>

Bạn cần điều chỉnh lại src (nguồn) của file jquery.js. Thí dụ, nếu như file jquery.js bạn đặt cùng thư mục với file html bạn vừa bạn, source sẽ giống như sau:

<script type=”text/javascript” src=”jquery.js”></script>

Bạn có thể tải về file jquery.js ở [1]

1.1. Chạy code khi tài liệu sẵn sàng
Theo cách viết javascript thông thường, coder đặt code muốn brower xử lý tương tự như sau:

window.onload = function(){ // Your code here}

Khi sử dụng jQuery, chúng ta sẽ làm việc tương tự bằng cách sau:

$(document).ready(function(){ // <font color=”#ff0000″>(**)</font>});

Chú ý: Từ nay, tôi gọi vùng (**) ở đoạn code trên là vùng js chính.

Sử dụng jq, bạn sẽ thấy quen thuộc với cách viết code này. Bây giờ, bạn hãy đặt đoạn code trên vào phần (*) trong file html hiện thời của bạn.

Thêm thuộc tính onclick

Bạn thêm đoạn HTML sau vào giữa thẻ body của file html hiện thời để hiển thị một liên kết

<a href=”http://pcworld.com.vn”>Hello world</a>
Đoạn code js sau vào phần (**) để thêm thuộc tính onclick cho các thẻ “a”

$(”a”).click(function(){ alert(”Hello! How are you ?”);});

Khi click vào liên kết ở trong trang web, trình duyệt sẽ hiển thị bảng thông báo “Cảm ơn đã ghé thăm!”. Bạn có thể thêm thuộc tính onclick này cho bất kỳ thẻ nào trong trang web của mình.

Thủ thuật
Thay đoạn code js trên bằng đoạn code js sau, khi click vào một liên kết trong trang web, browser sẽ hiển thị bảng thông báo rồi im re, chứ không chuyển sang trang web toila.net

$(”a”).click(function(){ alert(”Thank for your visit!”); return false;});

1.2. Thêm class
Ở mục này, chúng ta sẽ xét một ví dụ để xem cách thêm một class vào một (nhiều) đối tượng DOM.

Thêm đoạn code sau vào phần header của trang web (định dạng cách trình bày cho class ‘test’ của các thẻ HTML có tên ‘a’)

<style type=”text/css”>a.test { font-weight: bold; }</style>

Thay thế vùng js chính bằng đoạn code sau (xóa tất cả nội dung cũ), với mục đích: khi trang web được tải xong, nội dung của các thẻ ‘a’ sẽ được trình bày bằng định nghĩa ở đoạn code trên

$(”a”).addClass(”test”);

Bạn cũng có thể xóa class ra khỏi một DOM

1.3. Các hiệu ứng đặc biệt
Bây giờ bạn thử đặt đoạn code sau vào vùng js chính để thử xem

$(”a”).click(function(){ $(this).hide(”slow”); return false;});

2. Cách gọi dây chuyền

Chúng ta xem và thử đoạn code sau để có cái nhìn sơ qua về lập trình hướng đối tượng với jQuery:

$(”p”).addClass(”test”).show().html(”foo”);

Mỗi phương thức ở đoạn code trên (addClass, show, html) trả về đối tượng jQuery; với đối tượng trả về, bạn có thể tiếp tục áp dụng các phương thức có thể cho tập các phần tử hiện thời. Khi tương đối thành thạo jQuery, bạn có thể sẽ thấy quen thuộc đoạn code sau:

$(”a”).filter(”.clickme”).click(function() { alert(”click!”);}).end().filter(”.hideme”).click(function() { $(this).hide();});

Bạn có thể dùng trang tham khảo [2] API để biết các API mà jQuery hỗ trợ.
3. Callbacks, Functions và đối tượng ‘this’

Callback là một hàm được thực thi sau khi một hàm cha của nó được thực thi xong. Cách khai báo callback trong jQuery có phần khác với cách truyền thống.

3.1 Khai báo callback không có tham số

$.get(’myhtmlpage.html’, myCallBack);

Chú ý là tham số thứ hai ở khai báo trên là tên của một hàm chứ không phải là một chuỗi (không đặt giữa cặp nháy đơn)

3.2 Khai báo callback với tham số
Cách khai báo sai

$.get(’myhtmlpage.html’, myCallBack(param1, param2));

Cách khai báo đúng

$.get(’myhtmlpage.html’, function(){ myCallBack(param1, param2);})

;

[1] http://docs.jquery.com/Downloading_jQuery
[2] http://docs.jquery.com/JQuery_API

Share This Post

Căn bản về jQuery

Posted by admin | Posted in Ajax, Biểu thức chính quy, JQuery, Web2.0 | Posted on 02-12-2008

Cơ bản

Đây là bài hướng dẫn cơ bản, nhằm giúp bạn có những kiến thức căn bản để sử dụng jQuery. Nếu bạn chưa tạo một trang thí nghiệm, hãy tạo một tài liệu HTML với nội dung như sau:

<html>
<head>
<script type=”text/javascript” src=”path/to/jquery.js”></script>
<script type=”text/javascript”>
// Your code goes here
</script>
</head>
<body>
<a href=”http://jquery.com/”>jQuery</a>
</body>
</html>

Sửa thuộc tính src trong thẻ script để trỏ tới jquery.js Ví dụ, nếu jquery.js ở cùng thư mục với tệp HTML, bạn có thể dùng:

<script type=”text/javascript” src=”jquery.js”></script>

Bạn có thể tải bản jQuery mới nhất tại trang Downloading jQuery.
Chạy mã lúc Document Ready (trang đã sẵn sàng)

Có thể thấy rằng hầu hết các lập trình viên Javascript kết thúc mã thực thi bằng cách thêm các dòng mã vào script, tương tự như sau:

window.onload = function(){ … }

Các mã bên trong đó sẽ được thực thi khi trang được tải xong. Không còn gì phải bàn, tuy nhiên, mã Javascript không chạy cho đến khi tất cả các hình ảnh trong trang được tải xong (kể cả banner quảng cáo). Lý do cho việc sử dụng window.onload là để chắc chắn rằng HTML ‘document’ phải được tải xuống hết, sau đó mới chạy mã kia.
Để giải quyết, jQuery có câu lệnh đơn giản, được biết như

ready event:
$(document).ready(function(){
// Mã của bạn
});

Mã này kiểm tra document và đợi cho đến khi nó sẵn sàng để sử dụng - theo ý bạn muốn. Hãy lấy đoạn mã mẫu ở trên và cho vào tài liệu HTML của bạn. Các ví dụ còn lại của jQuery sẽ được đặt bên trong phần callback của hàm này, chúng sẽ được thực thi khi tài liệu sẵn sàng.
Chuyện gì xảy ra với sự kiện Click

Đầu tiên, chúng ta sẽ thử thực hiện động tác click với

clicked. Bên trong ready function (từ ví dụ ở trên), thêm mã như sau:
$(”a”).click(function(){
alert(”Cảm ơn đã ghé thăm!”);
});

Lưu tệp HTML và tải lại trang thử nghiệm trên trình duyệt (Ctrl+F5). Bấm vào link nào đó trên trang và trình duyệt sẽ hiện ra một thông báo pop-up.
Đối với sự kiện click và hầu hết các sự kiện khác events, bạn có thể can thiệp vào hành động mặc định - ở đây, sau đây là link dẫn tới jquery.com - bằng cách trả về giá trị false từ điều khiển sự kiện:

$(”a”).click(function(){
alert(”Cảm ơn đã ghé thăm!”);
return false;
});

Nếu không dùng các đoạn mã trên, nếu bạn nhấn link tới jquery.com trong trang, thì trình duyệt sẽ duyệt tới. Nhưng ở đây, trình duyệt sẽ hiện thông báo và không chuyển đi đâu cả.
Thêm một Class (lớp với CSS)

Đây là tác vụ dùng để thêm vào (hoặc bỏ đi) các class từ phần tử nào đó, ví dụ:

$(”a”).addClass(”test”);

Nếu bạn đặt đoạn mã trên vào phần script trong header của trang HTML, thì mã tự động sinh ra sẽ là:

<style type=”text/css”>a.test { font-weight: bold; }
</style>

và sau đó

addClass

được gọi - tất cả những phần từ A sẽ được làm đậm. Để bỏ class, bạn có thể sử dụng removeClass
Các hiệu ứng khác

Trong jQuery, có cung cấp các thành phần effects, để làm cho website của bạn thật sự nổi bật. Để chạy thử, hãy thay đoạn mã như sau:

$(”a”).click(function(){
$(this).hide(”slow”);
return false;
});

Bây giờ, nếu bạn nhấn vào liên kết có trong trang, bạn sẽ thấy nó biến mất một cách từ từ.

[edit]

Khả năng liên kết thành chuỗi (một phép thuật jQuery)

jQuery cung cấp cho bạn một cách viết mã đơn giản và ngắn gọn. Nó tương tự như cách thức lập trình hướng đối tượng (object-oriented programming), nói đúng hơn đây là cách viết thẳng một hàng.
Tóm lại: Mỗi phương thức trong jQuery trả về câu truy vấn đối tượng của chính nó, nó cho phép bạn ‘xích’ chúng lại với nhau, ví dụ:

$(”a”).addClass(”test”).show().html(”foo”);

Câu lệnh này chứa những phương thức cá thể (addClass, show, và html) trả về đối tượng jQuery, nó cho phép bạn có thể tiếp dụng sử dụng phương thức để đặt cho phần tử hiện tại.
Bạn có thể dùng xa hơn nữa, bằng cách thêm hoặc bỏ phần tử từ vùng chọn, thay đổi các phần tử này và sau đó trả giá trị lại cho vùng chọn trước, ví dụ:

$(”a”)
.filter(”.clickme”)
.click(function(){
alert(”You are now leaving the site.”);
})
.end()
.filter(”.hideme”)
.click(function(){
$(this).hide();
return false;
})
.end();
Bạn tạo thêm đoạn mã HTML như sau:
<a href=”http://google.com/” class=”clickme”>I give a message when you leave</a>
<a href=”http://yahoo.com/” class=”hideme”>Click me to hide!</a>
<a href=”http://microsoft.com/“>I’m a normal link</a>
Các phương thức thay đổi vùng chọn của jQuery, có thể hoàn lại với end(), nó cho biết sự kết thúc của vùng lựa chọn đó và bắt đầu áp dụng lựa chọn mới:

  • add(),
  • children(),
  • eq(),
  • filter(),
  • find(),
  • gt(),
  • lt(),
  • next(),
  • not(),
  • parent(),
  • parents() and
  • siblings().

Đọc thêm Traversing API documentation để biết thêm chi tiết về các phương thức này.
Hàm hồi quy, Hàm, và ‘this’

Hàm hồi quy là một hàm được truyền như là một thông số cho một hàm khác (hàm gọi/hàm bao ngoài) và sẽ được thực thi sau khi hàm gọi hoàn tất. Điều đáng lưu ý về hàm hồi quy là tất cả những hàm xuất hiện sau “hàm gọi” có thể thực thi trước hàm hồi quy.
Một điều quan trọng khác cần lưu ý là làm thế nào dùng đúng hàm hồi quy. Đây là điều mà tôi thường hay quên cú pháp câu lệnh.
Dùng hàm hồi quy không thông số

Đối với một hàm hồi quy không thông số, bạn có thể gọi theo cách sau:
$.get(’myhtmlpage.html’, myCallBack);
Lưu ý thông số thứ hai chỉ đơn giản là tên hàm (không truyền như một giá trị chuỗi ký tự và không có dấu ngoặc đơn). Các hàm trong Javascript được xem là những ‘khách hàng hạng sang’ và vì vậy có thể truyền như một biến số và sẽ được thực thi sau đó.
Dùng hàm hồi quy thông số

Bạn sẽ thắc mắc “Bạn sẽ phải gọi hàm hồi quy như thế nào nếu có thông số?”.
Sai

Cách dùng sai (không hoạt động)
$.get(’myhtmlpage.html’, myCallBack(param1, param2));
Cách này không hoạt động vì bạn gọi myCallBack(param1, param2) sau đó lại truyền giá trị trả về như là một thông số mới cho hàm $.get().

Đúng

Cách dùng đúng

$.get(’myhtmlpage.html’, function(){
myCallBack(param1, param2);
});

Lý do, bằng cách truyền một hàm vô danh (đoạn mã với…

function() {

};

…sẽ tự động gọi hàm cần thực thi với những thông số cần thiết), bạn đã hoàn tất việc gọi hàm hồi quy.
Cách dùng này đúng vì bạn truyền hàm vô danh như thông số thứ hai cho hàm $.get() mà không phải thực thi hàm đó trước khi truyền.
Đọc thêm

Những người đã và đang dùng jQuery cùng nhau soạn thảo một số tài liệu hướng dẫn hữu ích để hướng dẫn những người mới dùng jQuery lần đầu tiên như bạn hiểu và học cách ứng dụng thư viện này. Nếu chúng tôi không giải thích rõ ràng những tính năng và chức năng của thư viện jQuery… xin bạn vui lòng thông báo cho chúng tôi biết.
Đến đây, bạn có thể bắt đầu tham khảo tất cả Tài liệu dễ hiểu và bao quát về jQuery. Nếu bạn có câu hỏi hay thắc mắc, xin vui lòng gửi tin mail đến chuyên mục thư từ.

Tổng hợp từ Internet

Share This Post

Cách viết mã jQuery

Posted by admin | Posted in Ajax, JQuery | Posted on 01-12-2008

Tất cả các hàm được khai báo phải được kết thúc bằng dấu chấm phẩy, ngay sau dấu đóng hàm. Sẽ tránh khỏi
- Lỗi khó kiểm soát ở IE,
- Lỗi phát sinh ở Drupal 6.x khi script aggregation được bật
Không đúng chuẩn

Drupal.behaviors.tableSelect = function (context) {
$(’form table[th.select-all]:not(.tableSelect-processed)’, context).each(Drupal.tableSelect);
}

Đúng chuẩn

Drupal.behaviors.tableSelect = function (context) {
$(’form table[th.select-all]:not(.tableSelect-processed)’, context).each(Drupal.tableSelect);
};

Quy tắc đặt tên biến: Đối với biến chứa đựng đối tượng jQuery, tên biến nên được bắt đầu bằng dấu dollar.
Không đúng chuẩn

element = $(’#some-id’);$element = document.getElementById(’some-id’);

Đúng chuẩn

$element = $(’#some-id’);element = document.getElementById(’some-id’);

Nguồn: http://blog.thegioiwebsite.net

Share This Post

jQuery là gì?

Posted by admin | Posted in Ajax, JQuery | Posted on 01-12-2008

JQuery chính là một thư viện kiểu mới của Javascript giúp đơn giản hóa cách viết Javascript và tăng tốc độ xử lý các sự kiện trên trang web.JQuery thêm tương tác Ajax vào trong trang web của bạn.JQuery được thiết kế để thay đổi cách viết Javascript của bạn.
Chỉ với 10 dòng lệnh JQuery bạn có thể thay thế cả 20 chục dòng lệnh DOM JavaScript chán ngắt cũ kỹ mà xưa nay bạn vẫn từng viết.

Share This Post

Lỗi session_start();

Posted by everrich | Posted in PHP Căn bản | Posted on 30-11-2008

Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cookie - headers already sent by (output started at C:AppServwwwPHPsessionregisterSession.php:2) in C:AppServwwwPHPsessionregisterSession.php on line 3Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cache limiter - headers already sent (output started at C:AppServwwwPHPsessionregisterSession.php:2) in C:AppServwwwPHPsessionregisterSession.php on line 3

// đoạn code đặt ở đầu trang web, hoàn toàn chưa gọi bất kỳ biến nào khác
Xin hỏi tôi gặp phải lỗ gì và phải khắc phục như thế nào?

Share This Post

Những điều cần biết khi viết mã CSS

Posted by admin | Posted in CSS | Posted on 28-11-2008

Những điều cần tránh trong khi viết mã HTML và CSS nếu bạn muốn website của mình hiển thị tốt ở hầu hết các browser.

1. Không bao giờ sử dụng padding cho các đối tượng có độ rộng cố định (fixed width)

Đây là nguyên tắc cơ bản vì cách căn lề của Internet Explorer khác với các trình duyệt khác và cũng là 1 lỗi của trình duyệt này. Lỗi này được gọi là “Box Model Bug” hình dưới là một hình ảnh minh họa cho lỗi này.

Bạn có thể thấy rằng độ rộng của đối tượng “được” cộng thêm khi hiển thị ở IE nếu như có padding. Vậy đơn giản là không dùng padding cho các đối tượng có độ rộng cố định (fixed width).

Read the rest of this entry »

Share This Post
Viet Nam PHP Blog Rss